- Người thừa kế theo di chúc là những người được hưởng di sản theo ý chí và sự định đoạt của người để lại di sản, được thể hiện thông qua văn bản gọi là “Di chúc”.
Theo quy định tại Điều 624 BLDS 2015, như sau:
Điều 624. Di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
- Để là người thừa kế hợp pháp cần đáp ứng được điều kiện:
• Được chỉ định trong nội dung của di chúc được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 631 BLDS 2015.
• Còn sống hoặc được sinh ra theo quy định tại Điều 613 BLDS 2015.
• Không thuộc trường hợp bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản trong di chúc.
Mặc dù di chúc được ưu tiên áp dụng, pháp luật vẫn bảo vệ quyền lợi của một nhóm người thừa kế nhất định, gọi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015.
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
…
Như vậy, những chủ thể được liệt kê vẫn được hưởng một phần di sản (bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu họ không từ chối hoặc không bị truất quyền), ngay cả khi không được nhắc đến hoặc bị truất quyền trong di chúc.
1.3 Người thừa kế theo pháp luật
Khi người để lại di sản không có di chúc hợp pháp hoặc di chúc không thể thực hiện được, việc phân chia tài sản sẽ được tiến hành theo nguyên tắc thừa kế theo pháp luật. Việc xác định người thừa kế theo hình thức này tuân thủ chặt chẽ các quy định tại Điều 651 BLDS 2015, như sau:
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự ưu tiên của ba hàng thừa kế như trên, áp dụng nguyên tắc cùng hàng hưởng bằng nhau.
- “Thiếu người thừa kế” được hiểu là tình trạng một hoặc nhiều người thuộc diện được hưởng di sản không còn quyền hoặc không thực hiện quyền thừa kế của mình, làm phát sinh sự thay đổi trong việc phân chia di sản.
- Việc thiếu người thừa kế có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, được pháp luật quy định cụ thể:
• Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS 2015.
• Người thừa kế từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 BLDS 2015.
• Người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm mở thừa kế theo quy định tại Điều 619 BLDS 2015.
Lưu ý: Trường hợp, thừa kế thế vị chỉ áp dụng cho thừa kế theo pháp luật. Đây là nguyên tắc để con của người thừa kế bị “thiếu” được thế chỗ cha/mẹ để hưởng phần di sản.
⇒ Việc “thiếu người thừa kế” xảy ra khi có người bị loại trừ (Điều 621), từ chối (Điều 620), hoặc chết trước/cùng thời điểm (Điều 619, 652). Việc này làm thay đổi cơ cấu phân chia di sản.
>> Tham khảo thêm: Dịch vụ khai di sản thừa kế
3.1 Trường hợp người thừa kế không rõ nơi cư trú hoặc mất liên lạc
- Người thừa kế vắng mặt lâu ngày, không liên lạc được, gia đình không xác định được nơi cư trú, người yêu cầu khai nhận di sản có thể đề nghị Tòa án tuyên bố người đó mất tích. Theo quy định tại Điều 68 BLDS 2015 thì:
Điều 68. Tuyên bố mất tích
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Như vậy, một người được coi là mất tích khi biệt tích 02 năm liên tục và đã áp dụng biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định nhưng không có tin tức xác thực. Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, người đại diện theo pháp luật của người mất tích sẽ tham gia thủ tục nhận di sản thay họ theo quy định tại Điều 65 BLDS 2015.
⇒ Điều này giúp tiếp tục thực hiện thủ tục khai nhận di sản mà không cần sự có mặt trực tiếp của người thừa kế đang vắng mặt.
- Người thừa kế dù đang ở địa phương nhưng không ký vào hồ sơ khai nhận di sản hoặc gây cản trở, thủ tục không thể thực hiện tại công chứng.
- Theo quy định tại Điều 59 Luật Công chứng 2024 về công chứng văn bản phân chia di sản:
Điều 59. Công chứng văn bản phân chia di sản
1. Người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản.
Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra, bảo đảm việc phân chia di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
…
⇒ Hồ sơ khai nhận hoặc phân chia di sản phải có sự tham gia và ký của tất cả người thừa kế.
⇒ Khi phát sinh tranh chấp hoặc một người không hợp tác, thì người có yêu cầu chia di sản thừa kế phải nộp đơn đến Tòa án để yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo Điều 650 và Điều 659 BLDS 2015. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ thụ lý, triệu tập người thừa kế không hợp tác và ra phán quyết có giá trị thay cho chữ ký của họ, đảm bảo quyền lợi của những người còn lại.
3.3 Các trường hợp khác
- Người thừa kế từ chối nhận di sản: Việc từ chối phải được lập thành văn bản và thực hiện trước thời điểm phân chia di sản. Khi có văn bản từ chối hợp lệ, người đó sẽ không được tính là người thừa kế trong thủ tục, và việc công chứng khai nhận di sản có thể tiếp tục bình thường mà không cần sự có mặt của họ.
- Người thừa kế đã chết và áp dụng thừa kế thế vị: Con của người chết sẽ thế vị để hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ họ đáng lẽ được hưởng. Do đó, khi lập hồ sơ khai nhận di sản, cần bổ sung đầy đủ thông tin của những người được thế vị, nếu không hồ sơ sẽ bị coi là thiếu người thừa kế và không thể công chứng.
- Không xác định được người thừa kế hoặc tất cả người thừa kế đều đã chết mà không có người thừa kế thế vị: Trong trường hợp người để lại di sản không có người thừa kế theo di chúc và cũng không có người thừa kế theo pháp luật, hoặc những người thừa kế đều đã chết mà không có người thế vị, di sản sẽ thuộc về Nhà nước theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015. Khi rơi vào trường hợp này, việc khai nhận di sản không thực hiện được và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiếp nhận tài sản theo quy định.
>> Tham khảo thêm: Luật sư chuyên về thừa kế nhà đất tại Tp.HCM - Dịch vụ Luật sư chuyên ngành
Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Khai thừa kế khi thiếu người thừa kế thì phải làm sao? nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Khai thừa kế khi thiếu người thừa kế thì phải làm sao? chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.
Tác giả: Thảo Phan Kim
Chúng tôi trên mạng xã hội