Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời như sau:
Anh/chị là công chức thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc theo Điều 2 Luật BHXH 2008. Theo quy định của Luật BHXH 2008 quy định về chế độ ốm đau như sau:
-Thời gian hưởng chế độ ốm đau:
“Điều 23. Thời gian hưởng chế độ ốm đau
1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:
a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;
b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.
2. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:
a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;
b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.
3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân”.
-Mức hưởng:
“Điều 25. Mức hưởng chế độ ốm đau
1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 và Điều 24 của Luật này thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
2. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:
a) Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;
b) Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;
c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.
3. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
4. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung”.
Ngoài ra sau khi đã nghỉ chế độ ốm đau mà còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức theo Điều 26:
“1. Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.
2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.”
Áp dụng trong trường hợp của anh/chị, do anh/chị không đề cập anh/chị đã tham gia BHXH được bao lâu nên chúng tôi sẽ lấy giả thiết anh/chị đóng BHXH dưới 15 năm. Với thời gian đóng BHXH dưới 15 năm, thì theo điểm a Khoản 1 Điều 23 Luật BHXH, anh/chị được hưởng chế độ ốm đau 30 ngày khi làm việc trong điều kiện bình thường. 30 ngày này được tính là ngày làm việc, không tính ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần. Do đó, nếu 34 ngày nghỉ ốm mà anh/chị nói là 34 ngày bình thường thì phải trừ các ngày này ra. Anh/chị chỉ được hưởng chế độ BHXH trong những ngày làm việc, không tính thứ bảy, chủ nhật.
Và mức hưởng chế độ ốm đau là 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc theo Khoản 1 Điều 25 Luật BHXH.
Bệnh lao hạch không nằm trong danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành theo TT33/1987/TT-BYT đã hết hiệu lực kể từ khi TT34/2013/TT-BYT thay thế. Do đó, khi anh/chị nghỉ chế độ ốm đau do mắc bênh lao hạch thì chế độ hưởng chế độ ốm đau cũng giống như trên. Về cơ bản đơn vị bảo hiểm thanh toán cho anh/chị chế độ ốm đau như vậy là đúng.
Để được tư vấn chi tiết hơn anh/chị vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6279. Trân trọng!
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội