Trong tình huống của bạn, việc bà của bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm đó (Cụ thể là theo Thông tư của Tổng cục địa chính số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 hướng dẫn đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Đất và nhà của bà của bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bà của bạn. Hơn nữa, theo như bạn nói, bà của bạn mua đất và nhà trước khi kết hôn với ông của bạn, cũng không có bằng chứng chứng minh là ông bà bạn đã thỏa thuận nhập nhà đất đó vào khối tài sản chung. Như vậy, vì nhà đất đó là tài sản riêng của bà của bạn nên theo luật dân sự 2005 thì bà của bạn có quyền bán, tặng, cho đối với mảnh đất đó.
Trường hợp bà của bạn muốn lập di chúc tặng cho tài sản cho bất kì ai đều có thể được. Vì theo Điều 646, BLDS: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS gồm có: “con chưa thành niên, cha, me, vợ, chồng; con đã thành niên mà không có khả năng lao động” .Tại thời điểm mở thừa kế, nếu di chúc là hợp pháp thì việc phân chia di sản thừa kế phải tuân theo di chúc.
Trong tình huống bạn nêu về việc kiện bà của bạn về tội lừa đảo của các cô bạn là không có căn cứ. Vì cấu thành của tội lừa đảo là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác; nhưng việc bà của bạn sở hữu nhà đất là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra để tìm chứng cứ về hành vi bị tố cáo trong đơn kiện, nếu có đủ cơ sở để kết luận là có hành vi lừa đảo thì cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố, nếu không thì họ sẽ trả lại đơn.
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội