Bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án cũng là giấy tờ hợp lệ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Câu hỏi:

Ông bà nội tôi được thừa hưởng sở hữu từ cụ nội một ngôi nhà trên mảnh đất có diện tích 1,9 sào Bắc Bộ ở xã Ngũ Lão, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bà nội tôi sinh được năm người con và cùng ở trên mảnh đất này. Ngoài ngôi nhà cũ của cụ nội để lại, còn có 3 căn nhà cấp 4 của bác thứ hai (xây năm 1975) và 2 chú (xây năm 1990). Nhưng diện tích đất còn lại vẫn nhiều. Năm 1978 ông nội mất không để lại di chúci. Hiện nay diện tích này do bà tôi đứng tên trong sổ địa chính. Bà tôi vẫn chưa chia mảnh đất này cho ai vì theo ý nguyện của ông là để thờ cúng tổ tiên. Năm 2000 do làm ăn thua lỗ nên bác tôi đã bí mật chuyển nhượng căn nhà cấp bốn đang ở cho chủ nợ và bỏ đi nơi khác sinh sống. Tháng 9/2003 bà tôi làm đơn đề nghị Uỷ ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà tôi thì được biết toàn bộ diện tích này đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên bác của tôi vào năm 1995 do một cán bộ địa chính của xã giúp đỡ. Do đó Uỷ ban đã từ chối cấp giấy chứng nhận cho bà tôi. Hỏi: 1. Bà nội có thể thực hiện ý nguyện của ông nội là để diện tích đất còn lại làm nơi thờ cúng không ai được phép chuyển nhượng hay không? 2. Bà nội tôi phải làm gì để được đứng tên toàn bộ mảnh đất này?

Trả lời:

Căn cứ dữ kiện ông cung cấp chúng tôi xác định ngôi nhà trên diện tích đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng của ông bà nội ông theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực từ ngày 13/01/1960 đến ngày 03/01/1987): “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Năm 1978 ông nội của ông mất nên theo quy định của Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì một nửa khối tài sản này là của bà nội, còn một nửa là di sản thừa kế của ông nội.  Ông nội của ông có nguyện vọng chỉ dùng diện tích này để thờ cúng tổ tiên chứ không được chuyển nhượng (tuy vẫn cho phép các con làm nhà trên đó). Trên diện tích đất của ông bà nội có 3 căn nhà cấp 4 của bác và 2 chú của ông  đươc ông bà nội cho phép xây  dựng để ở nên là tài sản của bác và chú ông, còn đất vẫn là của ông bà.
Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: "Khi một bên chết trước, nếu tài sản của vợ chồng cần chia, thì chia như quy định ở điều 29. Vợ chồng đều có quyền thừa kế tài sản của nhau".
Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: "Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất. Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất"
Căn cứ khoản 2 điều 637 Bộ luật dân sự năm 1995 (1)thì quyền sử dụng đất "cũng thuộc di sản thừa kế". Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 673 Bộ luật dân sự năm 1995 (2) về điều kiện để di sản dùng vào việc thờ cúng như sau: " Trong trường hợp người lập di chúc có để lại 1 phần di sản dùng vào việc thờ cúng, thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho 1 người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng". Có nghĩa rằng việc để di sản (là một nửa quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung với bà nội) dùng vào việc thờ cúng phải được thể hiện trong di chúc của người chết. Vì ông nội mất không để lại di chúc nên không thuộc trường hợp nêu trên (tức là không có căn cứ để xác định toàn bộ diện tích đất này là di sản dùng vào việc thờ cúng).
Căn cứ khoản 1 điều 684 Bộ luật dân sự năm 1995(3) thì những người thừa kế có quyền họp mặt để thoả thuận về việc để diện tích này dùng vào việc thờ cúng. Trong trường hợp các đồng thừa kế không đồng ý thì bà của ông chưa có quyền quyết định để diện tích đất này (bao gồm cả di sản thừa kế của ông nội) để làm nơi thờ cúng.
Căn cứ điều 635 Bộ luật dân sự quy định năm 1995(4): " Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền ...hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" nên một trong các thừa kế có quyền yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của ông nội theo quy định của pháp luật tức là "thừa kế theo hàng thừa kế" với " điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định" (điều 677 Bộ luật dân sự năm 1995(5).  Căn cứ điểm a khoản 1 điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995(6) thì bà nội cùng năm người con trai được xác định là "người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất" và mỗi người "được hưởng phần di sản bằng nhau"(khoản 2 điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995(7)). Tuy nhiên theo quy định tại điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995(8) thì yêu cầu chia thừa kế phải được thực hiện trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Vì ông bà chỉ cho phép bác và hai chú của ông xây nhà ở chứ không cho quyền sử dụng đất do đó đất vẫn của ông bà nên bà là người đứng tên trong sổ địa chính của xã.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: b. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính"
Như vậy chỉ có bà nội ông mới đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Nhưng căn cứ dữ kiện ông nêu thì bác ông đã bí mật xin cấp giấy chứng nhận đối với diện tích nhà đất này vào năm 1995 và không cho ai biết. Việc cấp giấy chứng nhận cho bác ông là không có căn cứ vì bác ông không phải là người sử dụng đất.
Căn cứ điều 138 Luật đất đai năm 2003 thì bà của ông cần có đơn khiếu nại gửi Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền (cấp quận/huyện) đề nghị kiểm tra lại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bác ông. Nếu trong hồ sơ không có một trong các giấy tờ về thừa kế, tặng cho đối với diện tích đất này thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bác ông là không đúng quy định của pháp luật.
Vì diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận nên thuộc thẩm quyền của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật đất đai năm 2003. Do đó bà nội của ông cần gửi đơn đến Toà án nhân dân đề nghị được bảo vệ quyền lợi.
Sau khi có bản án của Toà án, bà nội của ông có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 5 Điều 49 Luật đất đai năm 2003 về các trường hợp được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: “Người được sử dụng đất theo bản án hoặc theo quyết định của Toà án nhân dân”.
Khoản 5 Điều 49 Luật đất đai năm 2003: “Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp sau đây:
5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành”.
------------------------------------------------
(1)Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định vấn đề này mà quyền để thừa kế quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 5 điều 113 Luật đất đai năm 2003: "Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Họ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật"
(2) Khoản 1 điều 670 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Khoản 1 điều 681Bộ luật dân sự năm 2005
(4) Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005
(5) Điều 674 Bộ luật dân sự năm 2005
(6), (7) Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".
(8) Điều 645Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu  khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây