Không cần phải đăng ký thừa kế cho vợ đối với diện tích đất đã chuyển nhượng khi người chồng đang còn sống?

Câu hỏi:

Đầu năm 2003 tôi mua 40m2 trong mảnh đất của ông B đã được cấp sổ đỏ ở xã Tân Triều, huyện Thanh Trì. Hiện tôi có các giấy tờ sau: bản sao công chứng sổ đỏ mang tên ông B, hợp đồng chuyển nhượng có chữ ký của vợ chồng ông B và người làm chứng có xác nhận của UBND xã là không có tranh chấp. Nay tôi muốn xin cấp sổ đỏ phần diện tích đang sử dụng nhưng Phòng tài nguyên và Môi trường huyện yêu cầu vợ ông B phải làm thủ tục thừa kế (vì ông B chết đột ngột không để lại di chúc) thì chữ ký của vợ trong hợp đồng chuyển nhượng mới hợp pháp và tôi mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hỏi: Theo quy định của pháp luật tôi có được tách sổ đỏ mà không cần phải đợi thủ tục thừa kế cho vợ ông B không?

Trả lời:

Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có 1 trong 6 loại giấy tờ nêu tại khoản 1 điều 50 của Luật đât đai năm 2003.
Khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a. Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d. Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993;
đ. Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
Vì ông là người sử dụng đất chỉ có các loại giấy tờ: bản sao công chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông B, hợp đồng chuyển nhượng có chữ ký của vợ chồng ông B và người làm chứng, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã là không có tranh chấp. Những loại giấy tờ không thuộc quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003.
Căn cứ khoản 2 điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định như sau:  "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 điều này mà trên giấy tờ ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan nhưng đến trước ngày luật này có hiệu lực thi hành (tức là trước ngày 01/7/2004) chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất …".
Trường hợp của ông thuộc quy định nêu trên vì: Ông đang sử dụng diện tích đất được vợ chồng ông B chuyển nhượng; diện tích đất này là 1 phần của mảnh đất mà ông B đã được cấp giấy chứng nhận và ông có 1 bản sao công chứng giấy chứng nhận đứng tên ông B (tức là giấy tờ đất đứng tên người khác chứ không phải tên ông); có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên (bên chuyển nhuợng có chữ ký của vợ chồng ông B); và vì hai bên chưa đi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 điều 31 Luật đất đai năm 1998 (theo quy định này thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện) vào thời điểm chuyển nhượng. Như vậy ông không cần phải đợi vợ ông B làm thủ tục thừa kế nữa vì đã có điều kiện để được xét cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật và vợ ông B cũng không có tranh chấp gì về diện tích đất chuyển nhượng cho ông.
Trên cơ sở các giấy tờ này ông có thể làm thủ thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điều khoản 1 điều 123 Luật đất đai năm 2003 như sau: Ông cần nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, ở nông thôn thì nộp tại UBND xã để chuyển cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSD đất gồm: Đơn xin cấp giấy chứng nhận QSD đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 2 điều 50 (như liệt kê nêu trên)
Khoản 1 điều 123 Luật đất đai năm 2003 quy định: "Việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a. Người xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp hồ sơ tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
b. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1,2 và 5 điều 50 của luật này (nếu có), văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây