Từ thực tiễn tranh chấp nhìn lại tầm quan trọng của thỏa thuận ngôn ngữ

Thứ năm - 06/11/2025 11:10
Trong các giao dịch thương mại quốc tế, việc sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau trong hợp đồng là điều phổ biến. Khi phát sinh tranh chấp, ngôn ngữ được chọn để giải thích, áp dụng và giải quyết tranh chấp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên.Thực tiễn cho thấy, thiếu thỏa thuận rõ ràng về ngôn ngữ dễ dẫn đến tranh cãi, kéo dài thời gian và chi phí giải quyết tranh chấp.Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy xin giới thiệu bài viết “Từ thực tiễn tranh chấp nhìn lại tầm quan trọng của thỏa thuận ngôn ngữ” để bạn đọc tham khảo khi soạn thảo và thực hiện hợp đồng.
Từ thực tiễn tranh chấp nhìn lại tầm quan trọng của thỏa thuận ngôn ngữ
Từ thực tiễn tranh chấp nhìn lại tầm quan trọng của thỏa thuận ngôn ngữ
Mục lục

Tình tiết sự kiện:

Công ty C (Israel – Nguyên đơn) ký hợp đồng công nghệ với Công ty E (Việt Nam – Bị đơn). Trong hợp đồng các bên chọn VIAC khi có tranh chấp và, tại Điều 15 của hợp đồng, các bên chọn ngôn ngữ trọng tài là tiếng Anh.
Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp, Hội đồng Trọng tài xác định “ngôn ngữ trọng tài trong vụ tranh chấp là tiếng Việt”.

Bài học kinh nghiệm:

Ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng luôn là một vấn đề không thể thiếu cho dù đó là tố tụng dân sự tại Tòa án hay đó là tố tụng tại Trọng tài thương mại. Theo Điều 20 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định

“tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt”

Như vậy, “về nguyên tắc, tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt”. Quy định này ràng buộc cơ quan tố tụng cũng như các đương sự tham gia tố tụng với một số hệ quả quan trọng sau: 
Thứ nhất, “trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt mà họ sử dụng ngôn ngữ khác trong quá trình tố tụng thì phải có sự tham gia tố tụng của người phiên dịch để dịch ngôn ngữ đó ra tiếng Việt và ngược lại.Cụ thể, ngay tại phiên hòa giải, cần có “người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt” (khoản 5 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004) và đến khi tuyên án thì “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết” (Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004). Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng có quy định tương tự tại khoản 1 Điều 81 như sau: “người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt” và tại Điều 267 như sau
“trường hợp đương sự cần có người phiên dịch thì người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu và phần quyết định của bản án được tuyên công khai”.
Thứ hai, “đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp” (khoản 3 Điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, khoản 3 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Với quy định này,“nếu đương sự chưa gửi kèm bản dịch tài liệu, chứng cứ đó sang tiếng Việt hoặc đã dịch sang tiếng Việt nhưng bản dịch chưa được công chứng, chứng thực hợp pháp thì Toà án không nhận tài liệu, chứng cứ đó và nếu Tòa án chấp nhận những chứng cứ, tài liệu chưa được dịch sang tiếng Việt thì đây là trường hợp vi phạm nghiêm trọng tố tụng. 
Khoản 2 Điều 10 Luật Trọng tài thương mại 2010 về ngôn ngữ quy định
đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận”
So với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã mở rộng trường hợp theo đó các bên được thỏa thuận chọn ngôn ngữ cho tố tụng trọng tài. Cụ thể, Luật đã bổ sung thêm trường hợp “tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Trong thực tế, không hiếm trường hợp Hội đồng Trọng tài thuộc VIAC chấp nhận ngôn ngữ do các bên thỏa thuận khi tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong vụ việc trên, tranh chấp có yếu tố nước ngoài và các Bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài nên các bên được thỏa thuận chọn ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài. Thực tế, các bên đã thỏa thuận chọn ngôn ngữ trọng tài bằng tiếng Anh. Theo Hội đồng Trọng tài, “trong những văn thư giao dịch ban đầu, các Bên sử dụng tiếng Anh, Hội đồng Trọng tài cũng gửi các thông báo của mình cho các Bên bằng tiếng Anh”. Nhưng cuối cùng, Hội đồng Trọng tài lại sử dụng ngôn ngữ bằng tiếng Việt và đã ra Phán quyết trọng tài bằng tiếng Việt. Việc làm này có trái với ý chí chung của các bên không, có trái với các quy định trên hay không?
Thực ra, trong quá trình tố tụng, “ngày 18/11/2014, Nguyên đơn gửi Bị đơn Văn thư đề nghị sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ trọng tài. Bị đơn đã chấp nhận và như vậy hai bên thỏa thuận sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ trọng tài”. Ở đây, ban đầu các bên thỏa thuận chọn tiếng Anh nhưng sau đó đã thỏa thuận lại là sử dụng tiếng Việt và thỏa thuận lại này đã được Hội đồng Trọng tài chấp nhận.
Từ vụ việc trên, doanh nghiệp rút ra một số lưu ý sau: thứ nhất, các bên được quyền thỏa thuận chọn ngôn ngữ cho tố tụng trọng tài (không được thỏa thuận chọn ngôn ngữ nếu tranh chấp được giải quyết tại Tòa án nhân dân); thứ hai, các bên có thể thỏa thuận chọn ngôn ngữ ngay từ đầu (trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài) nhưng cũng có thể thỏa thuận chọn ngôn ngữ trong quá trình giải quyết tranh chấp; thứ ba, nếu các bên đã thỏa thuận chọn ngôn ngữ thì các bên cũng có quyền thay đổi bằng cách thỏa thuận một ngôn ngữ khác. Đây là những điểm khá đặc thù khi giải quyết tranh chấp tại trọng tài mà doanh nghiệp nên biết.
Việc xác định ngôn ngữ giải quyết tranh chấp là một trong những nội dung quan trọng cần được các bên chú trọng ngay từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng. Một thỏa thuận ngôn ngữ rõ ràng, phù hợp với năng lực và điều kiện của các bên sẽ giúp hạn chế rủi ro pháp lý, tiết kiệm thời gian và chi phí khi phát sinh tranh chấp. Đây cũng là kinh nghiệm đáng lưu ý trong quá trình xây dựng và thực hiện hợp đồng thương mại hiện nay.
>>> Tham khảo bài viết: " Luật sư soạn thảo, rà soát hợp đồng"
*Lưu ý: Các thông tin của bài viết trên được lấy từ nguồn “Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết” và đã được mã hóa dữ liệu. Đồng thời, mục đích của bài viết nhằm chia sẻ kiến thức pháp luật, đánh giá và nhận xét dựa trên quan điểm học thuật không nhằm công kích hay bảo vệ cho bất kì chủ thể nào.

Nguồn tin: Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây