Tranh chấp về bồi thường thiệt hai do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Thứ năm - 06/11/2025 17:24
Trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng, việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết thường gây ra thiệt hại thực tế cho bên còn lại — chẳng hạn như mất doanh thu, chi phí khắc phục, hoặc tổn thất về cơ hội kinh doanh. Khi đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại trở thành giải pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm.Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy xin giới thiệu bài viết “Tranh chấp về bồi thường thiệt hai do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng” để bạn đọc tham khảo rút kinh nghiệm khi thực hiện và soạn thảo hợp đồng.
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
Mục lục

Tình tiết sự kiện:

Công ty Việt Nam (Nguyên đơn – Bên mua) ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty Trung Quốc (Bị đơn – Bên bán). Theo nhận định của Hội đồng Trọng tài, “Bị đơn đã vi phạm điều khoản chất lượng hàng hóa theo quy định của hợp đồng”. Từ đó, Hội đồng Trọng tài buộc Bên bán phải bồi thường những thiệt hại thực tế mà Bên mua phải gánh chịu.

Bài học kinh nghiệm:

Trước việc đối tác không thực hiện đúng hợp đồng, doanh nghiệp có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại trên cơ sở Điều 303 Luật Thương mại 2005 theo đó
“Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”
Để được bồi thường thì phải có thiệt hại và khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại 2005 quy định hai loại thiệt hại được bồi thường là tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm:
“Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”
Trong vụ việc trên, vấn đề bồi thường thiệt hại thực tế được đặt ra. 
Thiệt hại thực tế do vi phạm hợp đồng rất đa dạng và tùy từng hoàn cảnh. Trong vụ việc trên, có hai nhóm thiệt hại thực tế đã được Hội đồng Trọng tài chấp nhận và đáng lưu ý:
Thứ nhất, Hội đồng Trọng tài chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại mà người bị vi phạm phải bồi thường cho đối tác xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng.
Cụ thể, đối với yêu cầu của Nguyên đơn theo đó “do Bị đơn giao hàng không đúng chất lượng làm cho Nguyên đơn không có nguyên liệu sản xuất ra sản phẩm để giao hàng hóa cho khách hàng và không có hàng (CaCl2) để giao cho khách hàng (Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ) nên Nguyên đơn phải bồi thường cho khách hàng số tiền là 4.000 USD (trong đó bồi thường 1.000 USD cho một khách hàng là hộ kinh doanh bán lẻ và bồi thường cho Công ty hóa chất MN số tiền là 3.000USD) và 62.500.000 VND cho Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ”, Hội đồng Trọng tài xét rằng “Nguyên đơn chỉ xuất trình và chứng minh được Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại kèm Phiếu chi số tiền bồi thường thiệt hại là 62.500.000 VND cho Cơ sở kinh doanh hóa chất TĐ mà không xuất trình được chứng cứ để chứng minh việc bồi thường cho một khách hàng là hộ kinh doanh bán lẻ và bồi thường cho Công ty hóa chất MN là khách hàng của Nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng Trọng tài nhận thấy: Việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả số tiền bồi thường thiệt hại là 62.500.000 VND là có căn cứ pháp lý để được chấp nhận; Đối với việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả số tiền bồi thường thiệt hại cho khách hàng là
4.000 USD là không có căn cứ pháp lý để được chấp nhận”. Ở đây, nếu chứng minh được việc bồi thường cho đối tác là có thật và xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng, doanh nghiệp bị vi phạm được bồi thường khoản tiền này. Do đó, để được bồi thường như một thiệt hại thực tế, doanh nghiệp cần chứng minh được thiệt hại này là thực tế. Trong vụ việc, doanh nghiệp bị vi phạm được bồi thường khoản tiền mà doanh nghiệp bồi thường cho đối tác xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng. Hướng giải quyết tương tự cũng được vận dụng nếu doanh nghiệp bị vi phạm phải chịu phạt cho đối tác (như phạt vi phạm hợp đồng, phạt cọc).
Thứ hai, xuất phát từ việc giao hàng không đúng hợp đồng, bên mua không sử dụng được hàng đã nhận nhưng đã phải bỏ ra một số chi phí và những chi phí này cũng được bồi thường. Cụ thể, theo Hội đồng Trọng tài, “Nguyên đơn đã xuất trình được hợp đồng thuê nhà kho ngày 05/01/2011 kèm Phiếu chi ngày 01/02/2011 thể hiện số tiền 5.000.000 VND và Phiếu chi ngày 01/03/2011 thể hiện số tiền 5.000.000 VND để chứng minh cho yêu cầu của Nguyên đơn. Hợp đồng này phù hợp và trùng khớp với ngày nhận hàng của Tờ khai hải quan số 1439 ngày 05/01/2011 là cơ sở để chứng minh giao dịch giữa hai Bên có thực hiện. Mặt khác, hợp đồng thuê nhà kho ký kết ngày 05/01/2011 có thời hạn dưới 06 tháng không có công chứng là không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng Trọng tài có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đơn để buộc Bị đơn thanh toán phí thuê kho bãi cho Nguyên đơn số tiền 10.000.000 VND”. Tương tự, vẫn theo Hội đồng Trọng tài, “Nguyên đơn đã xuất trình được hóa đơn GTGT ký hiệu RR/2010N, số 0190341 ngày 10/01/2011 về phí dịch vụ mở tờ khai hải quan do Công ty TCT phát hành. Hội đồng Trọng tài nhận thấy đây là chứng cứ có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn phải thanh toán số tiền 6.600.000 VND” và “Nguyên đơn đã xuất trình Hóa đơn GTGT ký hiệu SH/2010N, số 0163496 ngày 23/01/2011 về cước vận chuyển do Công ty VN phát hành kèm Phiếu chi ngày 23/01/2011 thể hiện số tiền là 10.000.000 VND. Đây là cước phí vận chuyển hàng hóa từ cảng về kho lưu giữ hàng hóa của Nguyên đơn nên Hội đồng Trọng tài nhận thấy việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn hoàn trả số tiền này là có căn cứ pháp lý”.
Từ vụ việc trên, doanh nghiệp bị vi phạm từ việc vi phạm hợp đồng của đối tác biết được rằng họ được bồi thường những thiệt hại thực tế như tiền bồi thường hay tiền phạt với đối tác khác cũng như chi phí phát sinh liên quan đến hợp đồng bị vi phạm. Tuy nhiên, không phải thiệt hại nào bên bị vi phạm yêu cầu cũng được chấp nhận. Chỉ những thiệt hại nào bên bị vi phạm chứng minh được trong thực tế và xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng mới được bồi thường. Do đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ những chứng cứ để được Hội đồng Trọng tài chấp nhận như vụ việc trên đã cho thấy.Bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho bên bị thiệt hại và duy trì sự công bằng trong quan hệ hợp đồng. Trên thực tế, việc xác định mức thiệt hại và chứng minh thiệt hại là yếu tố then chốt để yêu cầu bồi thường được chấp nhận. Do đó, các bên cần cẩn trọng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, lưu giữ chứng cứ thiệt hại và tuân thủ quy định pháp luật, qua đó góp phần hạn chế tranh chấp.
>>> Tham khảo bài viết:" Tư vấn khỏi kiện tranh chấp thương mại'
'' Luật sư soạn thảo, rà soát hợp đồng"

*Lưu ý: Các thông tin của bài viết trên được lấy từ nguồn “Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết” và đã được mã hóa dữ liệu. Đồng thời, mục đích của bài viết nhằm chia sẻ kiến thức pháp luật, đánh giá và nhận xét dựa trên quan điểm học thuật không nhằm công kích hay bảo vệ cho bất kì chủ thể nào.


 

Nguồn tin: Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây