Câu hỏi:
Kính chào LS, tôi đã đọc qua nhiều bài viết của quí LS trên trang web: http://luatsuhcm.com tôi cảm thấy rất bổ ích cho những đọc giả như tôi.
Hôm nay tôi có một vấn đề muốn tham khaỏ ý kiến của LS, rất mong LS có thể dành chút thời gian giải đáp.
Hiện tại Công ty tôi có cử một anh nhân viên đi học đại học tại Anh trước khi đi anh nhân viên này có làm một Bản cam kết sau khi đi học về sẽ phục vụ tại Công ty 05 năm nếu không phục vụ đủ số thời gian nêu trên thì anh nhân viên này sẽ bồi hoàn lại chi phí mà Công ty đã đầu tư cho anh này đi học.
Sau khi về nước làm việc cho Công ty được 01 năm thì anh ta không muốn làm nữa (xin tóm lược anh nhân viên này là hơp đồng không xác định thời hạn), và anh ta báo trước cho Công ty trước 45 ngày theo bộ luật lao động 2012. Từ việc anh nhân viên này nghỉ việc xảy ra những sự việc sau.
Theo tôi tìm hiểu thì tại Điều 43 và Điều 37 BLLĐ 2012 có quy định như sau:
*Điều 43: Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật*
1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
*Điều 37: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động*
Trả lời:
Văn phòng luật sư Tô Đình Huy trả lời vấn đề của bạn như sau:
1/ Vấn đề bồi hoàn chi phí đào tạo
Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động: "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.” Như bạn đã tìm hiểu, Khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 cho phép người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày. Anh nhân viên của bạn làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn và đã báo trước 45 ngày trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu căn cứ vào quy định của Điều 41 (nêu trên) thì anh nhân viên này đã thực hiện đúng nghĩa vụ báo trước và không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Do đó anh nhân viên này không có nghĩa vụ của người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được quy định tại điều 37. Như vậy, nếu viện dẫn Khoản
3 Điều 43 và Khoản 3 Điều 37 thì anh nhân viên Công ty bạn không phải bồi hoàn chi phí đào tạo.
2/ Về Hợp đồng đào tạo nghề
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 Bộ luật lao động 2012 quy định về việc ký kết hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động và người lao động:
“1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động”.
Điều 6 Luật dạy nghề 2006 quy định về các trình độ đào tạo trong dạy nghề chỉ bao gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
“Điều 6. Các trình độ đào tạo trong dạy nghề
Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên”.
Nếu căn cứ vào quy định Điều 6 Luật dạy nghề, có thể nói Công ty bạn đưa nhân viên đi học Đại học sẽ không thuộc trường hợp đào tạo nghề được điều chỉnh bởi quy định của Điều 37 của luật Dạy nghề 2006 và Bản cam kết cũng không được xem là Hợp đồng đào tạo nghề theo Luật dạy nghề.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải hiểu tinh thần nhà làm luật như thế nào về “đào tạo nghề” được quy định tại điều 62 Bộ luật lao động? Hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn Bộ luật lao động năm 2012 về vấn đề này. Đây là một bất cập của pháp luật lao động.
• Vấn đề liên quan đến việc bồi hoàn chi phí đào tạo khi có hợp đồng đào tạo nghề mà người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
trái với hợp đồng đào tạo nghề.
Tại công văn số 1019/LĐTBXH ngày 29/3/2013, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời một số nội dung của Đại biểu quốc hội đề cập: “Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013, trong đó tại Điều 62 quy định “Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động; nội dung của hợp đồng đào tạo nghề gồm: nghề đào tạo, địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo, chi phí đào tạo, trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo, trách nhiệm của người sử dụng lao động”. Theo quy định nêu trên thì người lao động và người sử dụng lao động phải ký hợp đồng đào tạo nghề. Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, khi chưa học xong hoặc học xong mà không làm việc cho người sử dụng lao động đủ thời gian theo thỏa thuận trong hợp đồng đào tạo nghề thì phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định của pháp luật.” Theo công văn này thì nếu có hợp đồng đào tạo nghề mà người học nghề vi phạm hợp đồng này thì phải bồi thường chi phí đào tạo chứ không phải viện dẫn Khoản 3 Điều 43 và Khoản 3 Điều 37 để làm căn cứ không bồi thường.
3/ Về sự khác nhau giữa học thạc sĩ, đại học và học nghề, chúng tôi đưa ra một số quy định pháp luật hiện hành để bạn tham khảo
- Học thạc sĩ, đại học được quy định tại Điều 4 Luật giáo dục đại học 2012 . Giải thích từ ngữ:"Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường
cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học"
Điều 5. Mục tiêu của giáo dục đại học
1. Mục tiêu chung:
a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu
khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập
quốc tế;
b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ
năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển
ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có
sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi
với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân.
2. Mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ:
a) Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ
bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các
nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng
giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo;
b) Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn
diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực
hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết
những vấn đề thuộc ngành được đào tạo;
c) Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền
tảng, có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học
hoặc hoạt động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập,
sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc
chuyên ngành được đào tạo;
d) Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý
thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát
triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và
giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên
cứu khoa học và hoạt động chuyên môn.
Điều 6. Trình độ và hình thức đào tạo của giáo dục đại học
1. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ cao đẳng,
trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
- Học nghề được quy định tại Luật dạy nghề 2006
Điều 4. Mục tiêu dạy nghề
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản
xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào
tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ
cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Điều 5. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được
việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học.
Điều 6. Các trình độ đào tạo trong dạy nghề
Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao
đẳng nghề. Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường
xuyên.
Để được tư vấn chi tiết hơn, bạn vui lòng gọi tổng đài 19006279 để gặp luật sư tư vấn
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội