Như thế nào là di chúc hợp pháp?

Câu hỏi:

Thứ nhất, về tính hợp pháp của bản di chúc lập năm 1992: Căn cứ dữ kiện ông nêu có thể xác định di chúc này không phù hợp với quy định của pháp luật cụ thể: Căn cứ Điều 655 Bộ luật dân sự(1) quy định: “1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b. Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định của pháp luật. 3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. 4. Di chúc bằng văn bản không có chứng nhận, chứng thực như quy định tại Điều 660 của Bộ luật này(2) chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”. Như vậy, di chúc năm 1992 chỉ được coi là hợp pháp nếu khi điểm chỉ vào mẹ của ông biết được nội dung của di chúc. Nhưng xét về mặt hình thức thì di chúc đó là không hợp pháp vì nếu mẹ ông không biết chữ thì người lập văn bản phải là người làm chứng chứ không phải là người được thừa kế lập và văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực. Theo quy định tại Điều 653 Bộ luật dân sự(3) thì có các loại di chúc sau: - Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; - Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; - Di chúc bằng văn bản có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; - Di chúc bằng văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước. Căn cứ dữ kiện của ông nêu thì tờ di chúc nói trên không thuộc trường hợp nào theo quy định của Điều 653 Bộ luật dân sự. Mặt khác, vì tờ di chúc do cháu của ông tự lập chứ không phải mẹ ông tự viết mà mẹ ông chỉ điểm chỉ vào nên theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự(4) thì phải có hai người làm chứng đối với trường hợp người để lại di chúc không tự tay viết được mà phải nhờ người khác viết. Điều 659 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 656 và Điều 657 của Bộ luật này(5)”. Theo quy định của pháp luật thì không quy định công an là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận di chúc. Và theo quy định Điều 661 Bộ luật dân sự(6) thì nếu mẹ ông muốn lập di chúc có chứng nhận của Uỷ ban nhân dân hoặc công chứng thì phải đến trụ sở các cơ quan này để lập di chúc chứ không phải sau khi ký điểm chỉ vào di chúc thì mới đi lấy xác nhận. Điều 661 Bộ luật dân sự quy định: “Việc lập di chúc tại Công chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây: 1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc. 2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được, thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”. Do đó, căn cứ vào các quy định trên thì bản di chúc này không hợp pháp. Thứ hai, về quyền định đoạt của mẹ ông đối với diện tích 320m2. Vì mảnh đất trên là của tổ tiên để lại cho mẹ ông nên mẹ ông là người sở hữu hợp pháp. Điều 201 Bộ luật dân sự(8) về quyền định đoạt quy định: “Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác... Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản”. Căn cứ Điều này, mẹ ông có quyền chuyển giao quyền sở hữu đối với mảnh đất trên cho ông bằng cách tặng cho hoặc để lại thừa kế thông qua di chúc và cũng có quyền huỷ di chúc vì theo quy định của pháp luật di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người để lại di chúc mất. Ngoài ra tại khoản 1, 3 Điều 665 Bộ luật dân sự(9) còn quy định như sau: “1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. 3. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng một di chúc mới, thì di chúc trước bị huỷ bỏ”. Vì vậy, trong trường hợp này mẹ ông có thể tuyên bố không công nhận di chúc năm 1992 do đó di chúc này không có giá trị pháp lý. ------------------------------------------------------- (1) Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b. Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật. 2. Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. 3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này. 5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 2 người làm chứng và ngay sau đó người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng, chứng thực". (2) Điều 657 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc". (3) Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Di chúc bằng văn bản bao gồm: 1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; 2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; 3. Di chúc bằng văn bản có công chứng; 4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực". (4) Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005. (5) Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi điểm c khoản 1 như sau: "1. Di chúc phải ghi rõ: c. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản”.. (6) Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2005. (7) Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005. (8) Điều 195 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Quyền định đoạt là chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó". (9) Khoản 1, 3 điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trả lời:

Thứ nhất, về tính hợp pháp của bản di chúc lập năm 1992:
Căn cứ dữ kiện ông nêu có thể xác định di chúc này không phù hợp với quy định của pháp luật cụ thể:
Căn cứ Điều 655 Bộ luật dân sự(1) quy định:
“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b. Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định của pháp luật.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
4. Di chúc bằng văn bản không có chứng nhận, chứng thực như quy định tại Điều 660 của Bộ luật này(2) chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”.
Như vậy, di chúc năm 1992 chỉ được coi là hợp pháp nếu khi điểm chỉ vào mẹ của ông biết được nội dung của di chúc. Nhưng xét về mặt hình thức thì di chúc đó là không hợp pháp vì nếu mẹ ông không biết chữ thì người lập văn bản phải là người làm chứng chứ không phải là người được thừa kế lập và văn bản này phải được công chứng hoặc chứng thực.
Theo quy định tại Điều 653 Bộ luật dân sự(3) thì có các loại di chúc sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
- Di chúc bằng văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước.
Căn cứ dữ kiện của ông nêu thì tờ di chúc nói trên không thuộc trường hợp nào theo quy định của Điều 653 Bộ luật dân sự. Mặt khác, vì tờ di chúc do cháu của ông tự lập chứ không phải mẹ ông tự viết mà mẹ ông chỉ điểm chỉ vào nên theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự(4) thì phải có hai người làm chứng đối với trường hợp người để lại di chúc không tự tay viết được mà phải nhờ người khác viết.
Điều 659 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 656 và Điều 657 của Bộ luật này(5)”.
Theo quy định của pháp luật thì không quy định công an là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận di chúc. Và theo quy định Điều 661 Bộ luật dân sự(6) thì nếu mẹ ông muốn lập di chúc có chứng nhận của Uỷ ban nhân dân hoặc công chứng thì phải đến trụ sở các cơ quan này để lập di chúc chứ không phải sau khi ký điểm chỉ vào di chúc thì mới đi lấy xác nhận.
Điều 661 Bộ luật dân sự quy định: “Việc lập di chúc tại Công chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:
1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc.
2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được, thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”. 
Do đó, căn cứ vào các quy định trên thì bản di chúc này không hợp pháp.
Thứ hai, về quyền định đoạt của mẹ ông đối với diện tích 320m2.
Vì mảnh đất trên là của tổ tiên để lại cho mẹ ông nên mẹ ông là người sở hữu hợp pháp. Điều 201 Bộ luật dân sự(8) về quyền định đoạt quy định: “Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác... Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản”. Căn cứ Điều này, mẹ ông có quyền chuyển giao quyền sở hữu đối với mảnh đất trên cho ông bằng cách tặng cho hoặc để lại thừa kế thông qua di chúc và cũng có quyền huỷ di chúc vì theo quy định của pháp luật di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người để lại di chúc mất. Ngoài ra tại khoản 1, 3 Điều 665 Bộ luật dân sự(9) còn quy định như sau:
“1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào.
3. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng một di chúc mới, thì di chúc trước bị huỷ bỏ”.
Vì vậy, trong trường hợp này mẹ ông có thể tuyên bố không công nhận di chúc năm 1992 do đó di chúc này không có giá trị pháp lý.
-------------------------------------------------------
(1) Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b. Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 2 người làm chứng và ngay sau đó người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng, chứng thực".
(2) Điều 657 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc".
(3) Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Di chúc bằng văn bản bao gồm:
1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
3. Di chúc bằng văn bản có công chứng;
4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực".
(4) Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi điểm c khoản 1 như sau: "1. Di chúc phải ghi rõ:
c. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản”..
(6) Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2005.
(7) Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005.
(8) Điều 195 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Quyền định đoạt là chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó".
(9) Khoản 1, 3 điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây