Chia thừa kế theo pháp luật như thế nào?

Câu hỏi:

Bố mẹ tôi có năm người con: ba gái một trai là con đẻ và một chị gái là con nuôi. Bố mẹ tôi có khối tài sản là căn nhà cấp bốn hai gian trên diện tích đất 334m2. Bố tôi chết năm 1972 không để lại di chúc. Mẹ tôi cùng anh trai tôi tiếp tục quản lý khối tài sản này. Năm 1983 anh trai bán 100m2 đất. Năm 1993 khi có chủ trương cấp sổ đỏ, anh trai tự kê khai và được cấp sổ đỏ đối với diện tích nhà đất trên. Lúc này tuy mẹ tôi đang ở với người con trai nhưng lúc đó đã bị điếc và không biết chữ đến năm 1995 mẹ tôi mất không để lại di chúc. Chúng tôi biết khi mẹ tôi còn sống không hề làm giấy cho anh trai tài sản nhà đất này. Năm 2001 anh trai lại cắt 85m2 đất để xây nhà cho con trai của mình. Anh tôi có hai đời vợ, vợ cả đã ly dị. Nay anh ở với vợ hai và định để lại tài sản cho con gái của vợ hai (và tự ý cho con của vợ cả 85m2). Hỏi: việc chỉ có người con trai được cấp sổ đỏ đối với khối tài sản của bố mẹ có đúng không? Chúng tôi có được hưởng thừa kế tài sản mà bố mẹ tôi để lại không? Nay người em gái út chưa có nhà có thể được chia một phần không? Chúng tôi phải làm gì để được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Căn cứ dữ kiện bà nêu chúng tôi xác định khối tài sản gồm căn nhà cấp bốn trên diện tích đất 334m2 là tài sản chung của bố mẹ bà. Năm 1972 khi bố bà mất thì một nửa khối tài sản là của mẹ bà còn một nửa là di sản thừa kế chưa chia của bố bà. Cả 5 chị em bà và mẹ bà đều được hưởng thừa kế đối với phần di sản của bố. Nhưng vào thời điểm đó không có ai yêu cầu chia thừa kế nên mẹ bà sẽ là người quản lý sử dụng phần di sản này theo quy định tại Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau”.
Năm 1983 người anh trai ở cùng với mẹ bà đã tự ý bán 100m2 đất nhưng mẹ bà lúc đó đang còn sống không có ý kiến gì nên khối tài sản chỉ còn căn nhà trên 234m2.
Năm 1993 người anh trai làm thủ tục xin cấp sổ đỏ đứng tên mình trong khi mẹ bà còn sống và không có giấy tờ cho tặng như vậy là không đúng quy định của pháp luật vì anh trai không có các giấy tờ làm căn cứ pháp lý để chứng tỏ là người sử dụng đất hợp pháp theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai năm 2003.
          Căn cứ dữ kiện bà nêu thì lúc đó mẹ bà bị điếc và không biết chữ. Do đó, tất cả các chị em bà sẽ là người đại diện hợp pháp cho mẹ để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi người anh cả đứng ra kê khai để cấp sổ đỏ đứng tên mình mà không hỏi ý kiến của những người con khác là không đúng, mà người anh cả chỉ được quyền đứng ra kê khai hộ mẹ còn người đứng tên trong sổ đỏ phải là mẹ bà.
          Năm 1995 mẹ bà chết không để lại di chúc nên căn nhà trên diện tích 234m2 được xác định là di sản thừa kế chưa chia của mẹ bà. Tất cả năm chị em bà đều có quyền yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật vì theo quy định tại khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(1) quy định những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất theo thứ tự sau đây: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, của người chết”.
Căn cứ Điều 648 Bộ luật dân sự(2) quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là thời điểm người để lại di sản mất). Như vậy, tính từ thời điểm mẹ bà mất năm 1995 (thời điểm mở thừa kế) thì đến 2005 sẽ hết thời hiệu. Trong khoảng thời gian này chị em bà có quyền yêu cầu Tòa án chia thừa kế khối tài sản trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 679 Bộ luật dân sự(3) thì những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng ngang bằng nhau. Tức là mỗi người được 1/5 giá trị tài sản. Căn cứ dữ kiện bà nêu thì anh trai đã cắt cho con 85m2 xây nhà. Do đó, nếu phần được chia nhỏ hơn 85m2 thì người anh trai sẽ được hưởng thêm phần chênh lệch. Còn nếu lớn hơn thì phần diện tích này cũng bị đem chia vì anh trai không có quyền tự ý lấy đất thừa kế để cho con trai mình.
Hoặc các đồng thừa kế có thể cùng nhau lập biên bản xác nhận là đồng thừa kế và xác định di sản mà cha mẹ để lại là di sản thừa kế chưa chia theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình: “Trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm  mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.
Như vậy, kể từ thời điểm các anh em cùng nhau lập biên bản thoả thuận thì tài sản đó trở thành tài sản chung của các anh em. Nếu trong số các anh em bà có yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án thụ lý giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung. Do đó, nếu hiện nay người anh cả không đồng ý cho người em út một phần diện tích thì người này có thể yêu cầu Toà án chia thừa kế (vì vẫn còn thời hiệu khởi kiện) hoặc chia tài sản chung (nếu giữa các anh chị em có những thoả thuận theo viện dẫn nêu trên).
-------------------------------------------------
(1) Khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại".
(2) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
(3) Khoản 2 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây