Biên bản thoả thuận phân chia di sản của các đồng thừa kế

Câu hỏi:

Bố mẹ tôi có ba người con (chị gái, tôi là con trai và em gái). Bố tôi mất năm 1982 còn mẹ tôi mất năm 1986, để lại một diện tích 1000m2 gồm cả đất và ao (trên đất có ngôi nhà cấp bốn) nguồn gốc do tổ tiên để lại. Bố mẹ tôi mất không có di chúc. Khi bố mẹ còn sống có tôi và cô em gái cùng sống trên mảnh đất đó (em gái tôi ở trên diện tích 140m2) còn chị gái tôi lấy chồng và ở nơi khác. Năm 1995 tôi san lấp ao được khoảng 500m2 (do tôi tự bỏ chi phí bằng giá trị 150m2 ao). Sau khi san lấp ao chị em tôi có họp gia đình và lập biên bản để chia di sản thừa kế của bố mẹ (nhưng không có chữ ký của tôi). Theo biên bản này thì cô em gái của tôi được thêm 57m2 (cùng với 140m2 đang ở) và cho chị gái tôi 100m2, còn lại là phần của tôi (vì tôi phải lo giỗ tết cho cha mẹ và tổ tiên hàng năm). Đầu năm 2004 em rể tôi (chồng của em gái tôi) rủ chị gái tôi đòi chia lại đất nhưng chị tôi không đồng ý. Hỏi: Em rể của tôi có quyền lợi gì đối với di sản thừa kế của bố mẹ chúng tôi không? Nếu một mình em gái tôi yêu cầu chia đất có được không? Tôi có phải chia lại đất không?

Trả lời:

Vì bố mẹ ông mất không có di chúc nên việc chia thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế (tức là theo hàng thừa kế).
Căn cứ khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995(1) quy định về những hàng thừa kế theo pháp luật như sau:
"a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột".
Như vậy đối chiếu vào quy định trên thì 3 chị em ông thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ (điểm a) còn người em rể không thuộc hàng thừa kế nào nên không được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ ông.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 679 Bộ luật dân sự(2) thì “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.
Theo dữ kiện ông cung cấp hiện nay 3 chị em của ông đang quản lý sử dụng  1000m2 đất trên có ngôi nhà của bố mẹ để lại. Theo quy định tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định quyền sử dụng đất cũng là di sản nếu trên đất có tài sản là nhà gắn liền với quyền sử dụng đất. Di sản (là quyền sử dụng 1000m2 nói trên) do bố mẹ ông được để lại cho những người thừa kế sử dụng như sau: Ông sử dụng 700m2, em gái sử dụng 197m2, chị gái 100m2. Việc phân chia đất này là do ba chị em ông tự thoả thuận cách thức chia sau đó đã có lập văn bản. Tuy ông không ký vào Biên bản nhưng ông không phản đối gì và chị và em gái của ông cũng không có ý kiến gì như vậy là cả ba người đều thống nhất về việc định đoạt tài sản chung do bố mẹ để lại (là quyền sử dụng đất) theo phân chia như nêu trên.
Tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: " trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có 1 trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn liền với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất đó có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế thì phân biệt các trường hợp sau:
- Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.
-Trong trường hợp đương sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Trong trường hợp UBND cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó thì toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.
Theo quy định tại Điều 230 Bộ luật dân sự(3) về xác lập quyền sở hữu chung thì: “Quyền sở hữu chung được xác lập theo thoả thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán”. Như vậy, Biên bản chia đất giữa ba chị em ông lập vào năm 1995 được coi là sự thoả thuận định đoạt  tài sản chung là di sản thừa kế của bố mẹ để lại.
Vì bố mẹ của ông mất trước 1/7/1991 nên căn cứ các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì những người thừa kế không còn quyền yêu cầu vào ngày 10/3/2003. Tuy nhiên, trong trường hợp này, giả sử người em gái không công nhận giá trị của Biên bản chia đất năm 1995 mà muốn yêu cầu Toà án phân chia lại đất thì căn cứ quy định của điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế khi: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết...”. Vì năm 1995 ba chị em của ông có biên bản thoả thuận phân chia đất nên thuộc trường hợp quy định tại tiểu mục a.2 điểm a mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02 (2). Do đó toà án sẽ căn cứ vào biên bản này để chia tài sản chung.
Tiểu mục a.2 điểm a mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 quy định: "Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ".
---------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2) Khoản 2 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(3) Điều 215 Bộ luật dân sự năm 2005.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây