Biên bản phân chia di sản của các đồng thừa kế

Câu hỏi:

Cha mẹ tôi mất năm 1998 có để lại một thửa đất (trên có nhà) không có di chúc. Nay anh em tôi thoả thuận với nhau về việc chia tài sản thừa kế bằng một biên bản của hội đồng gia tộc. Vậy văn bản này có phải đưa ra Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân thì mới có giá trị hay không và có được công nhận như một cơ sở để chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chúng tôi không? Tôi là một thừa kế ở Hưng Yên thì có được nhận phần thừa kế là đất tại Hà Nội không?

Trả lời:

Căn cứ dữ kiện ông nêu chúng tôi xác định trường hợp của ông thuộc quy định tại điểm a khoản 1 điều 678 Bộ luật dân sự năm 1995 (1) tức là trường hợp "thừa kế theo pháp luật" vì người chết không để lại di chúc.
Điểm a khoản 1 điều 678 Bộ luật dân sự năm 1995: "1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợ sau đây: a. Không có di chúc".
Căn cứ khoản 1 Điều 636 Bộ luật dân sự năm 1995(2) quy định về thời điểm mở thừa kế như sau: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết...”. Như vậy, vì bố mẹ ông mất năm 1998 nên thời điểm mở thừa là năm 1998. Điều 639 Bộ luật dân sự năm 1995(3) quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Vì bố mẹ ông mất không có di chúc nên việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(4) thì các anh em ông là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau. Hiện nay, các anh chị em ông không có tranh chấp gì và cùng nhau thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bố mẹ là phù hợp với quy định của pháp luật cụ thể:
Điều 684 Bộ luật dân sự(5) quy định về họp mặt những người thừa kế như sau: “Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế... những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a. Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b. Cách thức phân chia di sản”.
Khoản 2 Điều này quy định: “Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”. Vì bố mẹ ông mất năm 1998 và căn cứ điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995 (6) quy định về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nên trường hợp của gia đình ông thuộc quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình cụ thể: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 1995: "Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Như vậy, kể từ thời điểm các anh chị em ông lập biên bản thoả thuận phân chia di sản thì di sản thừa kế của bố mẹ trở thành tài sản chung của các anh chị em ông. Vì pháp luật chỉ quy định mọi thoả thuận của các đồng thừa kế phải lập thành văn bản không cần phải có chứng thực của cơ quan Công chứng nhà nước hoặc chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền nên bản thoả thuận của gia tộc ông có tất cả các chữ ký của các đồng sở hữu chung có giá trị.
Điều 634 Bộ luật dân sự năm 1995 (7) quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình... hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Điều 635 Bộ luật dân sự năm 1995(8) cũng quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Do dó, mặc dù ông là một thừa kế tuy ở Hưng Yên nhưng vẫn được hưởng thừa kế của bố mẹ tại Hà Nội.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
c. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất...”.
Do đó, biên bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế của hội đồng gia tộc ông cũng được coi là một trong các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất vì là "giấy tờ hợp pháp về thừa kế". Tính hợp pháp của giấy tờ này thể hiện: các đồng thừa kế thoả thuận về phân chia di sản thừa kế.
Căn cứ vào tài liệu này các ông có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
------------------------------------------------
(1) Khoản 1 điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005
(2) Khoản 1 điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005
(3) Điều 636 Bộ luật dân sự năm 2005.
(4) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
(5) Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005.
(6) Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế"
(7) Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây