Tranh chấp về việc áp dụng hồi tố Bộ luật Dân sự 2015

Thứ năm - 27/11/2025 16:43

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự có căn cứ phát sinh trước ngày 01/01/2017, việc xác định áp dụng Bộ luật Dân sự 2015 theo hướng hồi tố hay không luôn là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các bên đương sự. Không ít trường hợp một bên yêu cầu áp dụng quy định mới để bảo vệ quyền lợi của mình, trong khi bên còn lại viện dẫn Bộ luật Dân sự 2005 nhằm tránh phát sinh nghĩa vụ bất lợi. Sự khác biệt về quy định giữa hai Bộ luật đã tạo ra xung đột trong lập luận, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp.  Vậy, trong những trường hợp cụ thể nào, Tòa án được phép áp dụng hồi tố Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết tranh chấp phát sinh trước thời điểm luật này có hiệu lực?Văn phòng Luật sư Tô Đình Huy xin giới thiệu bài viết “Tranh chấp về việc áp dụng hồi tố Bộ luật Dân sự 2015”để bạn đọc tham khảo.

Tranh chấp về việc áp dụng hồi tố bộ luật dân sự 2015
Tranh chấp về việc áp dụng hồi tố bộ luật dân sự 2015
Mục lục

Tình tiết sự kiện:

Ngày 06/11/2015, Nguyên đơn và Bị đơn ký hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị. Nguyên đơn đã tiến hành giao hàng năm 2016, nhưng cho tới thời điểm tháng 08/2017, Bị đơn mới chỉ thanh toán cho Nguyên đơn một phần tiền hàng, chưa thanh toán đợt 3 và đợt 4. Khi giải quyết tranh chấp, Hội đồng Trọng tài đã không áp dụng Bộ luật dân sự 2005 mà áp dụng Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 để giải quyết tranh chấp.

Bài học kinh nghiệm:

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật khác nhau như Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bất động sản… Trong các đạo luật này, Bộ luật dân sự là luật chung, có phạm vi điều chỉnh rất rộng (những vấn đề cơ bản của hợp đồng đều được Bộ luật dân sự điều chỉnh) nên doanh nghiệp cần có sự quan tâm thích đáng. Thực tế, Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều thay đổi so với Bộ luật dân sự 2005 như thay đổi điều cấm của “pháp luật” bằng điều cấm của “luật”, hình thức “theo quy định của pháp luật” bằng hình thức “theo quy định của luật”, mức lãi trần từ 150% lãi suất cơ bản nâng thành 20%/năm… Nếu hợp đồng được xác lập sau ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (tức từ ngày 01/01/2017), chúng ta không gặp khó khăn trong việc áp dụng Bộ luật dân sự và, trong trường hợp như vừa nêu, Bộ luật dân sự 2015 được áp dụng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều trường hợp hợp đồng được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực nhưng có tranh chấp cần giải quyết sau ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực như trường hợp nêu trong tình tiết sự kiện.

Vấn đề nêu trên đã được Bộ luật dân sự 2015 đề cập đến tại Điều 688 theo đó

“giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này” (điểm b khoản 1).

Với quy định vừa nêu, khả năng áp dụng Bộ luật dân sự 2015 cho giao dịch (hợp đồng) được xác lập trước ngày 01/01/2017 đã được ghi nhận nhưng với điều kiện. Cụ thể, thứ nhất, hợp đồng “chưa được hoặc đang được thực hiện”, “nội dung phù hợp với quy định của” Bộ luật dân sự 2015 và “hình thức” của hợp đồng cũng “phù hợp với quy định của Bộ luật này”. Ở vụ việc trên, hợp đồngtranh chấp được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực và vấn đề đặt ra là hợp đồng này có đáp ứng các điều kiện áp dụng Bộ luật dân sự 2015 nêu trên không?

Theo Hội đồng Trọng tài, “thời điểm Nguyên đơn và Bị đơn giao kết hợp đồng và Phụ lục hợp đồng ngày 06/11/2015 là thời điểm Bộ luật dân sự 2005 còn hiệu lực”, “Tính đến thời điểm Bộ luật dân sự 2015 bắt đầu có hiệu lực (tức 01/01/2017) hợp đồng giữa các Bên được thực hiện một phần: Nguyên đơn bàn giao, nghiệm thu máy móc, thiết bị; Bị đơn thanh toán đợt 1 và đợt 2. Sau ngày 01/01/2017 cho tới nay, Bị đơn vẫn chưa thanh toán đợt 3 và đợt 4 cho Nguyên đơn. Hội đồng Trọng tài xác định đến ngày Bộ luật dân sự 2015 bắt đầu có hiệu lực, hợp đồng này đang được thực hiện, chưa thực hiện xong”. Với nội dung vừa nêu, chúng ta thấy hợp đồng đang được thực hiện, chưa chấm dứt nên điều kiện đầu tiên nêu trên để áp dụng Bộ luật dân sự 2015 đã được đáp ứng.

Đối với Hội đồng Trọng tài, hợp đồng còn có hình thức và nội dung phù hợp với Bộ luật dân sự 2015 nên đáp ứng các điều kiện còn lại để áp dụng Bộ luật dân sự 2015 nêu trên. Ở đây, “về hình thức, Hội đồng Trọng tài thấy rằng hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015. Bởi lẽ, hợp đồng được lập bằng văn bản giữa người có thẩm quyền của Nguyên đơn và Bị đơn. Hợp đồng này không buộc phải công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký nên hoàn toàn phù hợp với các quy định về hình thức của hợp đồng” và “về nội dung của hợp đồng, Hội đồng Trọng tài nhận thấy quan hệ hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn là quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Nội dung hợp đồng có các điều khoản quy định tại Điều 398 Bộ luật dân sự 2015. Hơn nữa, nội dung của hợp đồng cũng phù hợp với các Điều luật từ 430 đến Điều 445 của Bộ luật dân sự 2015 (quy định về hợp đồng mua bán tài sản trong Chương thứ XVI: Một số hợp đồng thông dụng). Do vậy, nội dung của hợp đồng phù hợp với Bộ luật dân sự 2015”.
>>>Tham khảo thêm:Luật sư giải quyết tranh chấp giỏi - Vì sao khách hàng lựa chọn?

Ngày nay, Án lệ số 55/2022/AL cũng theo hướng nêu trên. Bởi lẽ, trong Nội dung án lệ, chúng ta thấy nêu “Về thời hạn thực hiện giao dịch được hai bên xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện, về nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự 2015 là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015. Như vậy, tuy thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thỏa thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn là đã đủ điều kiện để chuyển nhượng. Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực […]”.

Thực tế, việc áp dụng hồi tố Bộ luật dân sự 2015 như nêu trên có giá trị thực tiễn rất lớn mà doanh nghiệp nên biết vì Bộ luật dân sự 2015 có nhiều điểm thay đổi tích cực so với Bộ luật dân sự trước đây. Chẳng hạn, trong vụ việc trên, hợp đồng có nêu giá bằng ngoại tệ nên thuộc trường hợp vô hiệu khi áp dụng Bộ luật dân sự 2005 (do vi phạm điều cấm của “pháp luật” xuất phát từ vi phạm Pháp lệnh ngoại hối) nhưng hợp đồng này lại hợp pháp khi áp dụng Bộ luật dân sự 2015 (Bộ luật dân sự 2015 ghi nhận giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của “luật” trong khi Pháp lệnh ngoại hối không là “luật” mà là văn bản dưới luật). Thực tế, Hội đồng Trọng tài đã theo hướng hợp đồng có hiệu lực với nhận xét “việc quy đổi giá trị của hợp đồng từ tiền USD ra tiền VND trong phụ lục hợp đồng số 01 không phù hợp với quy định tại Pháp lệnh ngoại hối 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) của Ủy ban thường vụ Quốc hội và cũng không phù hợp với Thông tư số 32/2013 của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, theo Điều 4 (Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), pháp lệnh và thông tư không phải là văn bản luật. Do vậy, Phụ lục hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật”. Từ đó, Hội đồng Trọng tài khẳng định “Hợp đồng và Phụ lục hợp đồng có hiệu lực pháp luật”. 
>>>Tham khảo thêm:Luật sư chuyên về thương mại - an toàn pháp lý cho doanh nghiệp

Áp dụng hồi tố Bộ luật Dân sự 2015 trong tranh chấp dân sự đòi hỏi sự thận trọng và linh hoạt của cơ quan có thẩm quyền, trên cơ sở vừa bảo đảm nguyên tắc không hồi tố, vừa xem xét yếu tố có lợi cho các bên và bảo vệ sự ổn định của quan hệ pháp luật đã được xác lập. Nếu thiếu cơ sở áp dụng rõ ràng, việc lựa chọn sai Bộ luật điều chỉnh có thể làm thay đổi bản chất vụ việc, kéo theo nguy cơ phát sinh khiếu kiện, kháng cáo và làm kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp.
>>>Tham khảo thêm:Chi phí thuê Luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng

*Lưu ý: Các thông tin của bài viết trên được lấy từ nguồn “Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết” và đã được mã hóa dữ liệu. Đồng thời, mục đích của bài viết nhằm chia sẻ kiến thức pháp luật, đánh giá và nhận xét dựa trên quan điểm học thuật không nhằm công kích hay bảo vệ cho bất kì chủ thể nào.

 

Nguồn tin: Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây