Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng

Thứ hai - 20/10/2025 09:41
Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là với bất động sản, luôn đòi hỏi sự đồng thuận và chung tay của cả hai người. Thiếu đi yếu tố cốt lõi này, các giao dịch không chỉ tiềm ẩn rủi ro pháp lý mà còn có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu, gây hậu quả phức tạp cho tất cả các bên liên quan.
Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung vợ chồng
Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung vợ chồng
Mục lục

1. Các quy định về tài sản chung vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung bao gồm:

+ Thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh: Tiền lương, tiền công, lợi nhuận và các thu nhập hợp pháp khác.

+ Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng: Ví dụ, vợ có một căn nhà là tài sản riêng trước khi kết hôn, tiền cho thuê căn nhà đó trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung (trừ khi có thỏa thuận khác).

+ Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung: Các tài sản mà cả hai vợ chồng cùng được hưởng theo di chúc hoặc hợp đồng tặng cho.

+ Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung: Vợ hoặc chồng có thể tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung.

+ Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Ngoài ra, vợ chồng có quyền thỏa thuận bằng văn bản về việc nhập hoặc không nhập các tài sản vào khối tài sản chung. Mọi thỏa thuận này không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba.

Lưu ý: Nếu một bên tự ý thực hiện giao dịch với tài sản chung không phải đáp ứng các nhu cầu cần thiết mà không có sự đồng ý của bên kia (đối với các tài sản bắt buộc phải có sự đồng ý), thì giao dịch đó có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu.

>> Tham khảo thêm: Phân chia tài sản vợ, chồng

2. Tình huống thực tế và hướng dẫn từ TANDTC

Khi tiến hành một giao dịch dân sự mà đối tượng của giao dịch là tài sản chung của vợ chồng rất dễ xảy ra những rủi ro pháp lý không mong muốn nếu không tìm hiểu rõ ràng. Dưới đây là hướng dẫn từ Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) về các tranh chấp phổ biến và hướng giải quyết vướng mắc trong thực tiễn xét xử liên quan đến tài sản chung giữa vợ chồng và những điều cần lưu ý.

2.1 Rủi ro pháp lý khi mua bán nhà đất chỉ do một bên vợ hoặc chồng ký

Tình huống: Đối với trường hợp bất động sản là tài sản chung của vợ chồng nhưng chỉ có một bên vợ (hoặc chồng) tham gia khi ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng (mua bán), thế chấp..., bên còn lại không tham gia ký kết, không đồng ý đối với hợp đồng đó; hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng (mua bán), thế chấp không vi phạm các điều kiện có hiệu lực khác. Hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần?

Vấn đề cần giải quyết: Xác định giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần khi đối tượng của giao dịch là bất động sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng nhưng lại thiếu sự đồng thuận của một bên.

Hướng dẫn từ TANDTC như sau:

Theo Điều 130 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”.

Khoản 1, 2 Điều 213 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.

Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

…”.

Theo các quy định trên thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng là bất động sản phải do hai vợ chồng thỏa thuận hoặc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận định đoạt tài sản chung hoặc không có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản; chỉ có một bên vợ hoặc chồng tham gia ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp... bên còn lại không tham gia ký kết, không đồng ý thì hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ.

Tuy nhiên, trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất (theo Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

[Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của TANDTC]

2.2 Hiệu lực của hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm khi thiếu sự đồng thuận của vợ/chồng

Tình huống: Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Mục 3 Điều 6 Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN thì “Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm”, nên người đứng tên trên thẻ tiết kiệm (sổ tiết kiệm) có toàn quyền quyết định đối với số tiền trong thẻ tiết kiệm do mình đứng tên. Trường hợp số tiền tiết kiệm là tài sản chung vợ chồng, người chồng hoặc người vợ đứng tên chủ thẻ tiết kiệm thế chấp sổ tiết kiệm để vay tiền Ngân hàng và người không đứng tên không biết thì hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm này có hiệu lực hay không?

Vấn đề cần giải quyết: Việc định đoạt tài sản chung là nguồn thu nhập chủ yếu hoặc có giá trị lớn (như một sổ tiết kiệm) bắt buộc phải có sự thỏa thuận, đồng ý của cả hai vợ chồng.

Hướng dẫn của TANDTC như sau:

Khoản 1 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.”

Điều 8 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Người thứ ba xác lập, thực hiện giao dịch với vợ, chồng liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán, động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu thì bị coi là không ngay tình trong những trường hợp sau đây:

1. Đã được vợ, chồng cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này mà vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái với những thông tin đó;

2. Vợ chồng đã công khai thỏa thuận theo quy định của pháp luật có liên quan về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và người thứ ba biết hoặc phải biết nhưng vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái với thỏa thuận của vợ chồng”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp người chồng hoặc người vợ đứng tên chủ tài khoản tiền gửi tại ngân hàng (đứng tên chủ thẻ, sổ tiết kiệm) được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó nên hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp giao dịch với người thứ ba không ngay tình theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 nêu trên.

[Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của TANDTC]

>> Tham khảo thêm: Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình


Chuyên đề trên đây là chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung vợ chồng nhằm hỗ trợ người đọc có thêm kiến thức về pháp luật, không nhằm mục đích thương mại. Các thông tin trong chuyên đề Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung vợ chồng chỉ là quan điểm cá nhân người viết, người đọc chỉ tham khảo. Chúng tôi đề nghị Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên môn từ Luật sư của chúng tôi đối với các vấn đề cụ thể. Các yêu cầu giải đáp thắc mắc hãy liên hệ trực tiếp với Văn phòng của chúng tôi theo địa chỉ phía trên hoặc liên hệ qua Hotline: 0978845617, Email: info@luatsuhcm.com.

 

Tác giả: Thảo Phan Kim

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây