Người lao động hưởng lương khi công ty đóng cửa

Câu hỏi:

Tôi là một doanh nghiệp ngoài nhà nước, gia công hàng may mặc hoạt động từ tháng 6 năm 2008 đến nay. Hiện nay công ty gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, đang trên bờ phá sản. Do người lao động đã gắn bó với công ty hàng mấy năm qua, chia sẻ khó khăn cùng công ty nên tôi không nở để người lao động chịu thiệt thòi khi phải chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Tôi muốn thanh toán chế độ cho người lao động trước khi công ty chấm dứt hoạt động. Như vậy tôi phải thanh toán cho người lao động khoản trợ cấp như thế nào để đảm bảo đúng theo Bộ Luật lao động và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn

Trả lời:

Trong trường hợp công ty bạn chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 7, Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động – Bộ luật lao động

“7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.”

Thì người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại điều sau:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc – Bộ luật lao động 2012

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trường hợp công ty bạn chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2

Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế - Bộ luật lao động

“…

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

…”

Thì người lao động được hưởng trợ cấp mất việc làm theo quy định tại điều sau:

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm – Bộ luật lao động 2012

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây