Viết đơn bãi nại sao còn khởi tố

Câu hỏi:

Kính gửi Luật Sư Tôi có 1 vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi có mất 1 laptop, lúc đi làm để laptop ở nhà và bị kẻ trộm mở khóa vào lấy. Phát hiện tôi có báo với công an phường, nhưng sau đó tôi phát hiện ra kẻ cắp và đã lấy lại đc laptop và có báo cáo lại với công an phường, sau đó kẻ trộm đó tự về và chịu lên phường làm việc. Qua tìm hiểu tôi biết được hoàn cảnh và thông cảm cho kẻ trộm nên tôi đề nghị không truy tố ( bãi nại), tôi có gặp và nói chuyện với tên trộm thì được biết động cơ lấy cắp là do rất thích laptop từ nhỏ mà k có tiền mua, nghèo nên làm liều, chưa có tiền án tiền sự, thành thật khai báo và hợp tác tốt. Công an phường cũng đồng ý đơn bãi nại, và nói sẽ răn đe rồi thả về. Hôm sau công an gọi lên và nói là đã gửi hồ sơ xuống huyện vì mức tài sản lớn hơn 2tr (phải làm đúng luật). Công an huyện gọi tôi lên và nói rằng không được bãi nại mà bắt buộc truy tố, và bắt buộc tôi phải viết đơn truy tố, mặc dù tôi không muốn truy tố. công an nói chỉ được xin giảm nhẹ mà thôi. 1) Vậy tôi muốn hỏi trường này công an huyện ép tôi viết đơn là đúng hay sai? 2) Nếu công an huyện đúng, nhưng tôi hoàn toàn không muốn truy tố thì tôi phải làm sao để bị cáo được hưởng án treo?( tôi có đọc qua các tình tiết giảm nhẹ nên mới viết mail này, tôi không muốn lấy đi tương lai và công việc hiện tại của công dân lầm lỡ đó) 3) Tôi là bị hại nhưng tôi muốn bằng mọi giá cho bị cáo được hưởng án treo thì tôi phải làm gi? theo tình tiết đã nêu ở trên. Rất mong sự tư vấn và hướng dẫn cụ thể của luật sư. Trân trọng

Trả lời:

Chào anh! Trường hợp của anh chúng tôi xin tư vấn như sau:
- Hành vi của người kia phạm tội trộm cắp tài sản và không thuộc tại Điều 105 BỘ luật tố tụng hình sự về hành vi khởi tố theo yêu cầu người bị hại.
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự thì có một số vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Đó là các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 105 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), Điều 106 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng), Điều 108 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 109 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), Điều 111 (Tội hiếp dâm), Điều 113 (Tội cưỡng dâm), Điều 121 (Tội làm nhục người khác), Điều 122 (Tội vu khống), Điều 131 (Tội xâm phạm quyền tác giả) và Điều 171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) trong Bộ luật Hình sự.
Như vậy việc bây giờ anh không yêu cầu công an truy tố nữa nhưng theo quy định tại Bộ luật hình sự nêu trên thì vẫn phải truy tố người kia về tội trộm cắp tài sản.
 
- Về các tình tiết giảm nhẹ thì được quy định tại :

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

  1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
    b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
    c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
    d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
    đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;
    e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
    g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
    h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
    i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;
    k) Phạm tội do lạc hậu;
    l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
    m) Người phạm tội là người già;
    n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
    o) Người phạm tội tự thú;
    p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
    q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;
    r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
    s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.
  2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
  3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Xét thấy hành vi trên của người kia có nhiều tình tiết giảm nhẹ và mức độ phạm tội không nghiêm trọng, anh có thể viết đơn xin giảm nhẹ tội cho anh ta nữa thì có thể anh ta được hưởng án treo.

Thân chào!


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây