Không chịu trả lại khoản tiền bị trao nhầm thì có tội không?

Câu hỏi:

Hội đồng P tổ chức trao trả tiền đền bù cho một số hộ dân trong thôn K bị lấy đất ruộng để làm đường. Khi Hội đồng P gọi tên Nguyễn Văn T là người được nhận tiền đền bù đến để nhận tiền thì Nguyễn Văn T chưa có mặt. Trong khi đó Hoàng Đình T đang có mặt ở đó chơi và tưởng là gọi mình nên đã đến chỗ Hội đồng P thì ngay lúc đó Hội đồng P đã đưa cho Hoàng Đình T 20 triệu đồng. Sau khi trao trả tiền thì Hội đồng P mới phát hiện là đã trao trả nhầm tiền đền bù cho Hoàng Đình T nên Hội đồng P đã đến nhà Hoàng Đình T đề nghị T trả lại số tiền 20 triệu đồng nhưng Hoàng Đình T kiên quyết không trả. Vậy T có phạm tội không? Nếu có thì đó là tội gì?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015 thì mặt khách quan của tội chiếm giữ trái phép tài sản được thể hiện ở hành vi chiếm giữ trái phép tài sản khi người phạm tội có được tài sản do bị giao nhầm hoặc do mình tìm được hay nhặt được (bắt được).
Người phạm tội có được tài sản do bị người khác giao nhầm. Người phạm tội hoàn toàn không có thủ đoạn nào để bên giao tài sản tưởng nhầm mà giao tài sản cho mình, nếu người phạm tội có thủ đoạn gian dối để bên giao tài sản nhầm giao tài sản cho mình thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Tìm được tài sản là trường hợp người phạm tội tìm được tài sản mà việc tìm kiếm đó là trái phép. Nếu việc tìm kiếm đó được phép hoặc Nhà nước không cấm thì tài sản tìm được thuộc sở hữu của người tìm được nên không có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản.
Bắt được (nhặt được) tài sản là trường hợp nhặt được tài sản bị rơi, tài sản bị quên.

Không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là hành vi cố tình giữ, chiếm hữu, sử dụng hoặc đã định đoạt tài sản do bị giao nhầm, do tìm được, bắt được (nhặt được) khi đã có yêu cầu nhận lại tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Nếu chưa có yêu cầu nhận lại tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản thì chưa cấu thành tội phạm này.

Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi tài sản đó phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên đến dưới 200.000.000 đồng, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong tình huống trên thì Hoàng Đình T không có hành vi lừa dối nào mà lại được Hội đồng P giao nhầm 20 triệu đồng. Nhưng khi Hội đồng P yêu cầu Hoàng Đình T trao trả lại 20 triệu đồng đã được giao nhầm đó thì T kiên quyết không trả. Hành vi đó của P là hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Do vậy, Hoàng Đình T đã phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nếu Quý khách hàng đang gặp phải vấn đề pháp lý liên quan đến Tội phạm Hình sự, đừng ngần ngại, hãy liên hệ với chúng tôi qua Hotline 0909160684 để nhận được sự hỗ trợ kịp thời.
Số hotline được Luật sư tiếp nhận và xử lý trên phạm vi toàn quốc.
Thời gian làm việc từ 08 giờ sáng đến 21 giờ tối trong khoảng thời gian từ Thứ 2 đến Thứ 7 trong tuần.
Ngoài phương thức hỗ trợ qua số hotline cho dịch vụ Tư vấn Pháp luật Hình sự , chúng tôi còn tư vấn và hỗ trợ trực tiếp và trực tuyến qua Zalo: 0978845617, và Email [info@luatsuhcm.com]
Chúng tôi hiểu rằng, vấn đề pháp lý về tội phạm hình sự có thể ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và công việc, thời gian, chi phí của bạn. Hãy để đội ngũ Luật sư của chúng tôi đồng hành và hỗ trợ bạn giải quyết các vấn đề pháp lý một cách hiệu quả và chuyên nghiệp nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng Quý khách hàng trên mỗi bước đường pháp lý.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

QC Phải

Gọi 0978845617 hoặc gởi yêu cầu trực tuyến

Viber
Chat Zalo
0978845617
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây