Căn cứ tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: “nếu trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế”.
Như vậy, diện tích đất (40m2) mà chú út chiếm thuộc thửa đất mà chồng bà được bố mẹ chia cho, tuy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có tên trong sổ địa chính thuộc di sản thừa kế của chồng bà. Diện tích nhà đất này là tài sản chung vợ chồng của chồng bà và bà. Năm 1994 khi chồng bà chết thì một nửa khối tài sản là của bà, còn một nửa khối tài sản là di sản thừa kế chưa chia của bà và sáu người con là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với phần di sản của chồng bà theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(1). Vì diện tích nhà đất hiện nay do bà quản lý và đứng tên trong bản đồ địa chính do đó là tài sản thuộc sở hữu chung của bà cùng các con. Theo dữ kiện bà nêu thì các con của chú út đã tự ý chiếm 40m2 đất trong khối tài sản chung này sử dụng trái phép lợi dụng việc kê khai để được bồi thường khi nhà nước mở đường tại khu vực này. Nếu bà khẳng định 40m2 đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà thì bà có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân để đòi lại theo quy định tại điểm b tiểu mục 2.4 mục 1 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Cụ thể: không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong “Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm giữ bất hợp pháp thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản”. Do đó, bà cùng sáu người con có quyền khởi kiện đòi lại tài sản sở hữu chung.
Theo dữ kiện bà nêu từ năm 1994 bà đã được đứng tên trong sổ địa chính của xã nên cũng được coi là người sử dụng đất có giấy tờ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 50 Luật đất đai quy định việc hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định được Uỷ ban nhân dân xã phường thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ là: “có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính” thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Do đó bà cũng có quyền đứng đơn khởi kiện đòi tài sản là quyền sử dụng 40m2 đất đối với hai người con của chú út.
--------------------------------------
(1) Điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội