1. Quy định về trợ cấp thôi việc
1.1 Điều kiện trả trợ cấp thôi việc
Khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động 2012, Khoản 1 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn BLLĐ về trường hợp trả trợ cấp thôi việc như sau:
Khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động:
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
Khoản 1 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP:
" 1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động."
Theo đó, người sử dụng lao động chỉ phát sinh nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc khi:
i) Hợp đồng lao động chấm dứt;
ii) Hợp đồng lao động chấm dứt thuộc các trường hợp luật định nêu trên (chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật) và người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 42 BLLĐ.
Khoản 1 Điều 43 Bộ luật lao động 2012 cũng quy định trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trả trợ cấp thôi việc.
1.2 Thời gian tính trả trợ cấp thôi việc
Khoản 2 Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định: “thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc”.
Quy định này là căn cứ tính thời gian trả trợ cấp thôi việc cho những trường hợp được nêu tại mục 1.1.
Điều 140 Luật bảo hiểm xã hội 2006 quy định từ 01/01/2009, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động đóng BHXH bắt buộc.
Theo đó, đối với người lao động đóng BHXH bắt buộc từ 01/01/2009 và thuộc trường hợp nêu tại mục 1.1 thì khoảng thời gian làm việc từ 31/12/2008 trở về trước sẽ được trả trợ cấp thôi việc.
1. Mức trả trợ cấp thôi việc
Khoản 1 Điều 48 BLLĐ quy định mỗi năm làm việc, người lao động được trả một nửa tháng tiền lương.
Khoản 3 Điều 48 BLLĐ quy định: Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
2. Thỏa thuận trả trợ cấp thôi việc khi Hợp đồng lao động chưa chấm dứt
Từ các quy định nêu tại mục 1 cho thấy:
i) Khi hợp đồng lao động chấm dứt thì nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động mới có thể phát sinh;
ii) Người lao động không đương nhiên được hưởng trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian làm việc từ 31/12/2008 trở về trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, đồng nghĩa với việc người sử dụng lao động không đương nhiên phát sinh nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc khi hợp đồng lao động chấm dứt;
iii) Về mức trợ cấp thôi việc: tùy vào thời điểm người lao động thôi việc mà mức trợ cấp sẽ khác nhau vì phải căn cứ vào mức lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng trước khi người lao động thôi việc.
Do đó, chỉ khi chấm dứt hợp đồng lao động mới có căn cứ xem xét người lao động có đáp ứng điều kiện được trả trợ cấp thôi việc hay không và với mức tiền bao nhiêu. Vì vậy, doanh nghiệp không có cơ sở để thỏa thuận với người lao động về việc trả trước trợ cấp thôi việc cho họ.
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội