VPLS Tô Đình Huy xin trả lời như sau:
1. Điều kiện để hưởng án treo được thực hiện theo điều 60 Bộ luật hình sự (được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP). Theo đó:
6.1. Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;
Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;
c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;
d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
6.2. Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù.
Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
2. Việc người bị hại là người gây sự trước sẽ được xem xét đến như là một trong các yếu tố làm căn cứ để Hội đồng xét xử đánh giá trạng thái tinh thần của người phạm tội và có thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nếu hành vi của người bị hại cấu thành hành vi tội phạm trong bộ luật hình sự thì mới bị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự. Với những tình tiết mà chị cung cấp thì người bị hại không thể bị khởi tố.
3. Sự có mặt của bị cáo được quy định tại điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự- BLTTHS. Theo đó, bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải theo thủ tục quy định tại Điều 130 của Bộ luật này; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.
Tòa án chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau đây:
c) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ.
Như vậy, nếu em chị không được triệu tập theo quy định trên do lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng thì em chị có quyền khiếu nại trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà mình cho rằng vi phạm pháp luật. (chương XXXV BLTTHS)
4. Việc chứng minh tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự phải do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định việc thay đổi người giám định (khoản 4 điều 60 Bộ luật tố tụng hình sự) và phải do cơ quan trưng cầu giám định tiến hành. Cũng tại điều này, pháp luật cũng quy định trách nhiệm đối với người giám định. Do em chị là bị cáo trong vụ án hình sự nên không thể yêu cầu Tòa án tiến hành giám định lại.
Trân trọng!
Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi tổng đài tư vấn 0978845617 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Chúng tôi trên mạng xã hội